NGHIÊN CỨU TỬ VI
Ma Y, Ma Thị và hành trình truyền thừa các bài phú Tử Vi tại Việt Nam
Những bài phú mang tên Ma Y, Ma Thị đã lưu truyền lâu trong giới Tử Vi Việt Nam. Khi lần ngược các thư tịch Hán Nôm và sách Tử Vi thế kỷ XX, câu chuyện về nguồn gốc và truyền thừa của chúng phức tạp hơn nhiều.
Cập nhật: 10/10/2026
Trong giới học Tử Vi, cái tên Ma Y hay Ma Thị hoàn toàn không xa lạ. Người đọc sách cũ có thể gặp Phú Ma Thị, Ma Thị Cách Phú, những câu được ghi là của Ma Y Lão Tổ, hoặc những sách thuật số mang tên Ma Y Bí Truyền, Ma Y Bí Tàng.
Nếu chỉ nhìn vào tên gọi, rất dễ hình thành một câu chuyện tương đối đơn giản: có một nhân vật hay một truyền thống mang tên Ma Y, từ đó truyền xuống một hệ thống phú Tử Vi, rồi về sau lưu hành tại Việt Nam.
Nhưng khi bắt đầu đối chiếu các thư tịch, câu chuyện không còn đơn giản như vậy. Một số văn bản mang tên Ma Y thực sự có nội dung liên quan đến Tử Vi. Một số bài phú được gọi là của Ma Thị ở sách này, nhưng đến sách khác lại được quy cho Ma Y. Có những câu nằm trong Ma Thị Cách Phú nhưng đồng thời lại có đối ứng rất gần trong Cốt Tủy Phú, Thái Vi Phú, Hình Tính Phú hay Hoàng Kim Phú.
Vì vậy, câu hỏi đáng quan tâm có lẽ không chỉ là: Ma Y hay Ma Thị có phải tác giả thật của những bài phú này hay không?
Mà còn là: Những văn bản ấy đã được sao chép, tuyển chọn, diễn Nôm và tái biên tập như thế nào trong quá trình Tử Vi được tiếp nhận và lưu truyền tại Việt Nam?
Một đầu mối quan trọng: Ma Y Bí Truyền A.868
Một trong những tài liệu đáng chú ý nhất là thủ bản mang tên 麻衣秘傳, Ma Y Bí Truyền.
Bản hiện được ghi nhận với ký hiệu A.868, gồm hai tập, 328 trang, lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Điều đáng chú ý là tài liệu này không chỉ được mô tả như một sách tướng pháp. Trong hồ sơ thư tịch liên quan, nội dung của sách được ghi có những phần bàn về cách xem số dựa trên Can Chi, Ngũ Hành, luận giàu nghèo, vợ chồng, con cái, anh em, nhà cửa.
Đặc biệt, hồ sơ Hán Nôm trên hệ thống của Academia Sinica ghi một mục có tên:
安紫微五局捷法
Có thể phiên là:
An Tử Vi Ngũ Cục Tiệp Pháp.
Bên cạnh đó còn thấy những đầu mục như Dương Trạch Luận, Hoàng Kim Luận, Khán Mệnh Pháp, Lục Thập Giáp Tử Khinh Trọng.
Chi tiết này rất quan trọng. Nó cho thấy ít nhất trong truyền thống văn bản được bảo tồn tại Việt Nam, một tài liệu mang tên Ma Y Bí Truyền có chứa một phần được thư mục ghi nhận trực tiếp bằng hai chữ Tử Vi.
Như vậy, nếu mặc định rằng mọi tài liệu mang tên Ma Y đều chỉ liên quan đến tướng pháp thì có lẽ là quá đơn giản.
Tuy nhiên, từ đây cũng chưa thể đi quá xa. Tên An Tử Vi Ngũ Cục Tiệp Pháp chưa đủ để chứng minh rằng phần này hoàn toàn tương ứng với hệ thống Tử Vi Đẩu Số đang lưu hành hiện nay. Càng chưa thể từ đó kết luận rằng Ma Y là người sáng lập một “phái Tử Vi” độc lập.
Truyền thống văn bản mang tên Ma Y tại Việt Nam có ít nhất một tài liệu chứa nội dung được thư mục xác định là liên quan đến Tử Vi.
Ma Y hay Ma Thị?
Vấn đề tiếp theo lại xuất hiện ngay từ tên sách.
Một hồ sơ thư tịch khác được ghi nhận dưới những dạng:
麻衣秘藏, Ma Y Bí Tàng
麻氏祕藏, Ma Thị Bí Tàng
Một bên là Ma Y, 麻衣, bên kia là Ma Thị, 麻氏.
Nếu chỉ nhìn những bản phiên hoặc danh mục thứ cấp, người đọc rất dễ cho rằng đây chỉ là hai cách gọi của cùng một thứ. Nhưng về mặt thư tịch học, chưa thể làm như vậy.
Các danh mục hiện còn có những điểm bất nhất về nhan đề, ký hiệu VHb.161, VHv.161, số trang và hình thức văn bản. Có trường hợp cùng một ký hiệu lại xuất hiện bên cạnh những mô tả tài liệu khác nhau.
Muốn giải quyết vấn đề này, cuối cùng vẫn phải quay về bản vật lý: trang đầu thủ bản ghi gì, bìa ghi gì, lời tựa và lạc khoản ra sao, ký hiệu thực tế của bản sách là gì và nội dung bên trong có thực sự tương ứng hay không.
Vì vậy, hiện chưa có cơ sở để nói:
Ma Y = Ma Thị.
Nhưng chính sự không ổn định của hai tên gọi này lại trở thành một đầu mối đáng chú ý khi ta đi vào các bài phú Tử Vi.
Không chỉ có một “Phú Ma Thị”
Một điểm rất dễ gây nhầm là ngày nay chúng ta thường nói đến “Phú Ma Thị” như thể đó là tên của một tác phẩm thống nhất.
Khi đối chiếu sách cũ, ít nhất phải tách thành hai nhóm khác nhau.
Phú của Ma Thị tiên sinh, bản diễn Nôm
Nhóm thứ nhất xuất hiện trong Số Tử Vi Kinh Nghiệm của Quản Xuân Thịnh, xuất bản năm 1950.
Sách có một phần mang tên:
PHÚ CỦA MA THỊ TIÊN SINH
và ghi rằng bài phú này do một vị túc nho họ Bùi, người Thanh Hóa, diễn Nôm.
Ngôi Tử Vi đóng vào chốn hãm
Quyền giải hung, thiểu giảm vô uy
Phủ phùng Không xứ tài suy...
Đây là một bài văn vần tiếng Việt, mang đặc trưng của một bản diễn Nôm.
Người họ Bùi là ai, diễn Nôm vào thời điểm nào, dựa trên bản chữ Hán nào, hiện vẫn chưa xác định được. Nhưng điều quan trọng là đến năm 1950, ta đã có một chứng cứ in ấn cho thấy tồn tại một văn bản được gọi rõ là Phú của Ma Thị tiên sinh.
Ma Thị Cách Phú 100 câu
Nhóm thứ hai lại rất khác.
Đó là bộ thường được gọi là Ma Thị Cách Phú, gồm khoảng 100 câu quyết Hán Việt, chẳng hạn:
Khốc Hư Tý Ngọ đồng cung, tiền bần hậu phú.
Mã ngộ Trường Sinh, thanh vân đắc lộ.
Tử Phủ đồng cung, tối vi phúc hậu.
Nhật Nguyệt giáp Tài, bất quyền tắc phú.
Mã đầu đới kiếm, trấn ngự biên cương.
Về hình thức, cấu trúc và cách diễn đạt, bộ này rõ ràng không giống bài phú diễn Nôm ở trên.
Do đó, gọi cả hai chung chung là “Phú Ma Thị” rồi xem chúng như một tác phẩm là rất dễ dẫn tới nhầm lẫn.
Một chứng cứ quan trọng từ Tử Vi Bổ Túc năm 1958
Bộ Ma Thị Cách Phú 100 câu không phải sản phẩm mới chỉ xuất hiện trong thời Internet.
Một đầu mối đáng chú ý nằm trong Tử Vi Bổ Túc của Nguyễn Mạnh Bảo, xuất bản tại Sài Gòn năm 1958.
Trong bản văn hiện được đăng lại từ tác phẩm này, phần Ma Thị Cách Phú nằm từ số 251 đến 350, vừa đúng 100 câu.
Câu đầu của bộ tương ứng số 251. Câu thứ 81 tương ứng số 331. Câu thứ 100 tương ứng số 350. Sau số 350, văn bản chuyển sang một phần khác.
Ma Thị Cách Phú 100 câu đã có một truyền bản gắn với sách Tử Vi Việt Nam giữa thế kỷ XX.
Tuy vậy, cần giữ một giới hạn quan trọng.
Hiện phần đối chiếu này chủ yếu dựa trên bản văn được phiên lại và đăng lại từ Tử Vi Bổ Túc. Chưa hoàn tất việc kiểm toàn bộ 100 câu trên ảnh của ấn bản gốc năm 1958.
Vì thế, chưa nên nói rằng mọi chữ đang lưu hành ngày nay đều nguyên trạng từ bản in 1958.
Khi Ma Thị Cách Phú gặp Cốt Tủy Phú và Thái Vi Phú
Đây có lẽ là phần thú vị nhất.
Khi đem các câu trong Ma Thị Cách Phú đối chiếu với những bài phú thuộc truyền thống Đẩu Số Trung Quốc, bắt đầu xuất hiện nhiều đoạn tương ứng.
Chẳng hạn trong Cốt Tủy Phú có câu:
紫府同宮,終身福厚
Tức:
Tử Phủ đồng cung, chung thân phúc hậu.
Nội dung này tương ứng rất gần với một câu trong Ma Thị Cách Phú.
Trong Thái Vi Phú lại thấy những câu như:
日月夾財,不權則富
Nhật Nguyệt giáp Tài, bất quyền tắc phú.
馬頭帶劍,鎮衛邊疆
Mã đầu đới kiếm, trấn vệ biên cương.
祿居奴僕,縱有官也奔馳
Những cấu trúc này cũng có đối ứng rất gần trong bộ 100 câu mang tên Ma Thị.
Một số câu khác lại cho thấy quan hệ về nội dung và cấu trúc với Hình Tính Phú.
Đáng chú ý hơn nữa là những câu như Khốc Hư Tý Ngọ tiền bần hậu phú và Mã ngộ Tràng Sinh thanh vân đắc lộ được Quản Xuân Thịnh chép trong phần Hoàng Kim Phú của Số Tử Vi Kinh Nghiệm năm 1950.
Nhưng các câu tương ứng lại xuất hiện trong bộ Ma Thị Cách Phú 100 câu.
Đây là điểm khiến vấn đề nguồn gốc trở nên phức tạp.
Có thể Ma Thị Cách Phú là một tập hợp văn bản?
Nếu một bộ phú chứa những câu tương ứng với Cốt Tủy Phú, Thái Vi Phú, Hình Tính Phú, Hoàng Kim Phú và những nguồn khác, một khả năng tự nhiên cần đặt ra là:
Ma Thị Cách Phú có thể không phải một tác phẩm được sáng tác liền mạch bởi một người.
Nó có thể đã trải qua một quá trình tuyển chọn.
Những câu quyết từ nhiều nguồn được chọn ra, ghép lại, sắp xếp lại, rồi dần dần lưu truyền dưới một tên chung.
Nhưng đây vẫn mới là một giả thuyết văn bản học hợp lý, chưa phải kết luận cuối cùng.
Việc hai văn bản cùng có một câu không tự động cho biết văn bản nào chép văn bản nào. Cũng không loại trừ khả năng cả hai cùng tiếp nhận từ một nguồn thứ ba cổ hơn.
Muốn xác định chiều truyền thừa phải có các chứng bản đủ sớm, niên đại đáng tin, và tốt nhất là có thể so sánh trực tiếp các dị bản.
Từ Ma Thị năm 1950 đến Ma Y Lão Tổ năm 1958
Một chi tiết khác rất đáng chú ý nằm ở cách quy thuộc tác giả.
Trong Số Tử Vi Kinh Nghiệm năm 1950, bài phú Nôm được ghi rõ là của Ma Thị tiên sinh.
Nhưng đến Tử Vi Bổ Túc năm 1958, Nguyễn Mạnh Bảo lại quy một phần lớn kho phú Tử Vi cho Ma Y Lão Tổ.
Ông còn đề cập tới một truyền thống cho rằng một bản quốc âm có liên quan đến Lê Quý Đôn.
Nhưng cần phân biệt rất rõ: đây là lời quy thuộc được ghi trong sách năm 1958. Nó không phải bằng chứng độc lập chứng minh Ma Y thực sự là tác giả, cũng không chứng minh Lê Quý Đôn thực sự là người diễn Nôm những văn bản ấy.
Điều thú vị hơn là phần Tử Vi Tổng Luận Phú ở đầu Tử Vi Bổ Túc có những câu tương ứng với bài Phú Ma Thị tiên sinh trong sách năm 1950.
Vậy tại sao một lớp văn bản gần nhau lại được nguồn này đặt dưới tên Ma Thị, còn nguồn khác lại gắn với Ma Y?
Hiện có thể đặt ra vài khả năng:
- Hai tên là hai cách quy thuộc trong cùng một dòng truyền văn bản.
- Ban đầu là hai truyền thống khác nhau, nhưng trong quá trình sao chép chúng bị hợp nhất.
- Những người biên tập thế kỷ XX đã sử dụng những thủ bản khác nhau, và mỗi thủ bản mang một cách đề tên khác nhau.
Chưa có đủ chứng cứ để chọn một phương án.
Câu số 81 và một ví dụ về nguy cơ nhầm truyền bản
Một chi tiết nhỏ nhưng rất có ích cho việc nghiên cứu là “câu thứ 81”.
Trong Số Tử Vi Kinh Nghiệm năm 1950, Quản Xuân Thịnh dẫn một câu gọi là câu thứ 81 của sách chữ Hán:
Xương Tham cư Mệnh, phấn cốt túy si.
Câu này tương ứng với:
昌貪居命,粉骨碎屍
trong Cốt Tủy Phú.
Trong chính hệ thống phú đoán đánh số của sách năm 1950, câu tương ứng cũng nằm ở vị trí 81.
Nhưng câu 81 của Ma Thị Cách Phú 100 câu lại là một câu khác. Trong bản văn gắn với Tử Vi Bổ Túc 1958, câu thứ 81 của bộ Ma Thị tương ứng số 331.
Điều này cho thấy chỉ một chi tiết đánh số cũng có thể gây nhầm nếu ta mặc định mọi “câu 81” đều thuộc cùng một bộ phú.
Nghiên cứu phú Tử Vi vì vậy không thể chỉ dựa vào những bản chép câu quyết rời rạc. Phải biết câu đó đang nằm trong văn bản nào, hệ thống đánh số nào và truyền bản nào.
Dấu vết Ma Y có thể còn sớm hơn?
Một đầu mối khác xuất hiện trong tài liệu liên quan đến Phạm Giáp và dòng truyền thuật số của Phạm Gia Vận.
Có câu chữ Hán:
其所學不與《斗數》、《麻衣》、《鰲頭》、《月朏》諸書者類
Trong đó Đẩu Số và Ma Y được nhắc riêng bên cạnh những tên sách hay hệ tài liệu khác.
Đây là một đầu mối đáng chú ý đối với lịch sử thuật số tại Việt Nam thế kỷ XVIII.
Nhưng hiện chưa thể sử dụng câu này để nói rằng Ma Y được nhắc ở đây chính là bản Ma Y Bí Truyền A.868 hiện còn. Cũng chưa thể nói nó là một sách Tử Vi Đẩu Số.
Muốn đi xa hơn cần kiểm trực tiếp ngữ cảnh văn bản, bản chữ Hán và các truyền bản liên quan.
Vậy hiện tại chúng ta biết được gì?
Thứ nhất, truyền thống văn bản mang tên Ma Y tại Việt Nam không nên được giản lược thành tướng pháp. Ít nhất hiện còn một thủ bản mang tên Ma Y Bí Truyền có đầu mục liên quan trực tiếp đến Tử Vi.
Thứ hai, những gì ngày nay gọi chung là Phú Ma Thị không nhất thiết là một văn bản duy nhất. Ít nhất phải tách bài phú diễn Nôm được ghi trong sách năm 1950 với bộ Ma Thị Cách Phú 100 câu.
Thứ ba, bộ 100 câu mang tên Ma Thị chứa nhiều phần có đối ứng với các bài phú khác trong truyền thống Đẩu Số. Đây là dấu hiệu đáng chú ý về quá trình tuyển chọn, sắp xếp và truyền thừa văn bản.
Những gì chưa được phép kết luận
- Chưa chứng minh Ma Y là người sáng lập một phái Tử Vi.
- Chưa chứng minh Ma Y và Ma Thị là cùng một nhân vật hay cùng một tên gọi.
- Chưa chứng minh Ma Y Bí Truyền A.868 có quan hệ trực tiếp với Ma Thị Cách Phú.
- Chưa xác định chắc niên đại sao chép A.868.
- Chưa chứng minh bộ Ma Thị 100 câu có trước năm 1950.
- Chưa chứng minh bộ 100 câu do một người duy nhất biên soạn.
- Chưa xác định được chiều sao chép giữa những câu phú trùng hoặc gần nhau.
- Chưa hoàn tất đối chiếu toàn bộ ấn bản gốc Tử Vi Bổ Túc 1958 và các thủ bản Hán Nôm liên quan.
- Chưa xác định được một chứng bản cổ đáng tin của tác phẩm Tử Vi Âm Dương Chính Nghĩa được một số nguồn quy cho Ma Y.
Đặc biệt, sự xuất hiện của những sao như Đẩu Quân, Long Phượng, Thai Tọa, Khốc Hư hay các loại Không Vong trong một văn bản không tự động chứng minh văn bản đó có nguồn gốc Việt Nam, vì các yếu tố tương tự cũng xuất hiện trong truyền thống Tử Vi Trung Quốc.
Có lẽ câu hỏi “ai là tác giả?” chưa phải câu hỏi thú vị nhất
Khi mới tiếp cận vấn đề này, rất dễ bị cuốn vào việc tìm một câu trả lời dứt khoát: Ma Y có viết Tử Vi hay không? Ma Thị là ai? Ai mới thực sự là tác giả của những bài phú?
Nhưng càng lần theo các truyền bản, có lẽ điều đáng quan tâm hơn lại nằm ở chính quá trình biến đổi của văn bản.
Một câu phú có thể xuất hiện dưới nhiều nhan đề. Một bài có thể được quy cho Ma Thị trong nguồn này, rồi xuất hiện trong một tập được quy cho Ma Y ở nguồn khác. Một văn bản chữ Hán có thể được diễn Nôm. Những câu từ nhiều bài phú có thể được tuyển lại thành một tập mới.
Và sau nhiều thế hệ sao chép, cái tên đứng trên đầu văn bản đôi khi tồn tại bền hơn cả lịch sử thực sự của từng câu chữ.
Nếu nhìn theo hướng đó, nghiên cứu Ma Y và Ma Thị không chỉ giúp chúng ta tìm hiểu một vài bài phú. Nó còn mở ra một câu hỏi rộng hơn:
Kho tàng phú đoán Tử Vi hiện lưu truyền ở Việt Nam đã được hình thành như thế nào?
Có phần nào được tiếp nhận từ những văn bản Đẩu Số Trung Quốc? Có phần nào được diễn Nôm? Có phần nào được tuyển chọn, sắp xếp lại? Và trong quá trình ấy, người Việt đã tiếp nhận và biến đổi những tài liệu thuật số đó ra sao?
Có lẽ đây mới là hướng đáng để tiếp tục lần theo.
Tài liệu và nguồn đối chiếu chính
- Ma Y Bí Truyền (麻衣秘傳), ký hiệu A.868, Viện Nghiên cứu Hán Nôm; hồ sơ thư tịch số 4723 trên cơ sở dữ liệu Hán Nôm của Academia Sinica.
- Ma Y Bí Tàng / Ma Thị Bí Tàng (麻衣秘藏 / 麻氏祕藏), hồ sơ thư tịch số 4722.
- Quản Xuân Thịnh, Số Tử Vi Kinh Nghiệm, 1950.
- Nguyễn Mạnh Bảo, Tử Vi Bổ Túc, Sài Gòn, 1958.
- Trần Nghĩa, nghiên cứu về các sách Trung Quốc được người Việt sao chép hoặc in lại, 1990.
- Các văn bản thuộc truyền thống Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, trong đó đối chiếu Cốt Tủy Phú, Thái Vi Phú, Hình Tính Phú và các bài phú liên quan.
- Các bản Phú Ma Thị và Ma Thị Cách Phú đang lưu truyền được dùng làm tài liệu đối chiếu, không mặc nhiên xem là chứng bản gốc.
Ghi chú phương pháp: Bài viết phân biệt giữa dữ kiện thư mục, đối ứng văn bản và giả thuyết về truyền thừa. Những điểm chưa kiểm trực tiếp bản in hoặc thủ bản gốc được ghi rõ thay vì trình bày như kết luận đã xác lập.